Tag Archives: sự tích các loài hoa

Sự tích hoa hồng đỏ viền trắng

Hoa hồng đỏ viền trắng, một loại hoa mang một màu sắc rất đẹp mắt và khác biệt với những màu hoa hồng khác. Vậy bạn đã biết gì về loài hoa này? 

Truyện kể rằng:

Ngày xửa ngày xưa tại một vùng quê nọ có một cặp tình nhân yêu nhau say đắm. Tình yêu của họ thật đẹp hai người thường hay hẹn hò vui cười bên nhau có những khoảng khắc ý nghĩa và tình cảm.

Nhưng tình yêu của hai đã bắt đầu sảy xa những hiểu nhầm khi trong vùng cũng có một người con gái đã đem lòng yêu chàng trai này. Và cô ta lại là bạn thân của con gái. Cô gái nọ thấy tình cảm của hai người ngày càng sâu đậm thì luôn ghen ghét và tình mọi cách để phá hoại tình yêu này.

su-tich-hoa-hong-do-vien-trang-1

Vào một ngày cô ta đã tìm đến người con gái và bắt đầu kế hoạch với một câu chuyện không có thật. Cô đã xuyên tạc nói rằng chàng trai muốn làm quen với mình. Cô gái nghe vậy đã không hỏi han hay tìm hiểu và đã tin lời cô ta vì cô nghĩ rằng đây là người bạn thân sẽ không lừa dối mình.

Và rồi cô gái đã tìm đến chàng trai và nói lời chia tay một cách dứt khoát không chút vương vấn. Vậy là chuyện tình yêu dang dở tại đây.

Thời gian cứ trôi đi. Tình cờ vào một ngày có một người bạn của chàng trai đã nói hết sự thật cho chàng biết. Khi biết được sự thật chàng trai vội đi tìm người yêu cũ và giải thích tất cả mọi việc. Mong cô gái sẽ hiểu và quay về bên anh. Nhưng khi được biết tất cả mọi việc đều là hiểu nhầm thì cô gái vẫn không thể quay lại với chàng trai được.

su-tich-hoa-hong-do-vien-trang-2

Chuyện này như một nhát dao đâm vào trái tim chàng trai, anh vì buồn quá nên đã tìm cách giải thoát cho mình khi nhảy xuống vực tự tử.

Và cũng tại nơi chàng trai ngã xuống mọc lên một bông hoa hồng lạ với màu đỏ và trắng rất lạ và khác biệt. Từ đây mọi người gọi hoa này là hoa hồng đỏ viền trắng.

Sự tích hoa hồng đỏ viền trắng với cốt truyện về tình yêu đôi lứa về những thử thách, những sự ngờ vực không tin tưởng lẫn nhau để rồi chàng trai đã sẵn sàng hy sinh nói lên tấm lòng chung thủy của mình đối với cô gái. Một sự hi sinh đánh đổi cả tính mạng vì tình yêu sâu đậm.

Hoa hồng đỏ viền trắng là một loài hoa đẹp hiện nay trên thì trường hoa rất hiếm bán. Vì loại hoa này được liệt vào là một trong những loại hoa quý hiếm. Số lượng hoa được trồng rất ít nên loài hoa không được phổ biến như những loại hoa hồng xanh hay hồng đỏ.

Những loài hoa sinh ra từ chuyện tình cảm động

Hoa bất tử

Chuyện kể rằng có một đôi trai gái yêu nhau thắm thiết. Một ngày nọ, người con gái ước ao có được chùm hoa quí ở trên một đỉnh núi cao nhiều người biết đến nhưng không sao hái được, vì hoa đó ở đỉnh núi rất cao, chỉ nở vào mùa đông tuyết phủ dày đặc.

Không quản gian khổ nhọc nhằn, chàng trai đã từ biệt cô gái vào một ngày đầu xuân băng giá đang tan, để lặn lội đến nơi có chùm hoa quí tặng người yêu. Chàng quyết tâm chinh phục đỉnh núi cao, leo từ mỏm đá sắc nhọn này đến mỏm đá sắc nhọn khác, mặc cho mưa rơi, mặc cho tuyết phủ…

Cho đến một ngày, đói và khát khiến chàng trai kiệt sức. Chàng quay xuống vào đúng cái ngày tròn một năm xa cách người yêu trong tư thế quỳ rạp xuống, nhưng gương mặt vẫn hướng về phía đỉnh núi.

Chàng tắt thở vì kiệt sức và kỳ lạ, nơi chàng trai ngã xuống đã mọc lên một chùm hoa đỏ thắm như máu, thân mềm yếu nằm rạp xuống đất. Vì cành hoa mềm rũ, yếu ớt, mgười dân ở vùng núi cao chỉ ngắt lấy bông hoa đem về phơi khô làm thuốc uống và quà tặng. Khi phơi những đóa hoa ấy dưới nắng mặt trời thì bông hoa se lại và cánh thêm tươi thắm sắc màu. Người dân lấy những cành cây vót nhọn đầu và cắm hoa bất từ khô lên đó, làm những chiếc lá giả quanh cành cây tạo nên những cành hoa thật đẹp, và họ đem tặng nhau vào những dịp lễ hội.

Người đời đã đặt tên cho loài hoa ấy là hoa bất tử. Ngày nay, những cặp trai gái lấy hoa bất tử tặng nhau với ý nghĩa cao đẹp, tình yêu là bất tử, không bao giờ “chết” trong gian khổ khó khăn.

Hoa Mimosa

nhung-loai-hoa-sinh-ra-tu-chuyen-tinh-cam-dong1

Ở vùng đất Australia tươi đẹp nằm giữa biển khơi đầy nắng ấm xưa có một đôi tình nhân yêu nhau say đắm. Chàng là con của một ngư dân, có thân hình vạm vỡ, nước da đen bóng và thông minh tuyệt vời. Nàng là con gái cưng của một gia đình quý tộc đẹp rực rỡ, đài các và có tấm lòng nhân hậu.

Tuy nhiên, gia đình nàng lại ép gả nàng cho một công tước hoàng gia. Chàng trai buồn phiền từ giã biển khơi, bỏ nghề chài lưới, lên một vùng núi cao hiểm trở làm nghề giữ rừng để tìm quên mối tình tuyệt vọng. Khi đặt chân đến nơi, thì một trận hỏa hoạn dữ dội xảy ra. Một mình chàng bất chấp hiểm nguy để cứu những cánh rừng xanh và những con Calcuru tội nghiệp. Và rồi, ngọn lửa quái ác kia đã làm chàng ngất xỉu và thiêu sống chàng.

Khi hay tin chàng trai bỏ thành phố biển lên ngàn tìm quên mối tình đầu dang dở, trong đêm tân hôn cô gái đã bỏ trốn để tìm người yêu. Nhưng, khi gặp được thì thấy thân xác chàng bên đống tro tàn của cánh rừng bị cháy.

Nàng quỳ xuống và gục chết bên người yêu. Từ đó, trên vùng núi cao của đất nước Australia thơ mộng – nơi cặp tình nhân đã chết cho tình yêu xuất hiện một loài cây thân mộc, lá màu xanh biếc, lấp lánh hoa vàng thơm mát. Thổ dân địa phương đặt cho loài cây này một cái tên thật đẹp: Mimosa.

Ngày nay, khi các cặp tình nhân tặng hoa Mimosa cho nhau để khẳng định sự chung thuỷ, luôn hướng về người mình đem lòng yêu thương.

Hoa hồng

nhung-loai-hoa-sinh-ra-tu-chuyen-tinh-cam-dong

Ngày xa xưa, ở một vương quốc yên bình xa xôi có một vị hoàng đế ngủ quên với ngai vàng, xa hoa mà bỏ bê việc nước. Lũ bầy tôi ham danh lợi cai trị dân chúng muốn vua quên triều chính nên đã tìm cho vị hoàng đế này một người vợ xinh đẹp tuyệt vời. Tuy nhiên, hoàng hậu xinh đẹp lại rất mực yêu thương nhà vua.

Sau thời gian thụ thai, hoàng hậu sinh một đứa bé kháu khỉnh nhưng thân thể của đứa bé trong suốt, thấy hết cả đường gân, mạch máu. Bọn bầy tôi phản động đã gây áp lực buộc nhà vua đuổi hoàng hậu và hoàng tử khỏi hoàng cung. Vì phải che chở cho con, hoàng hậu chịu nhiều gian khổ và chết vì kiệt sức. Tiếng khóc của hoàng tử cảm động đất trời và thượng đế đã sai người đưa hoàng tử vào rừng nuôi nấng.

Vương quốc yên bình không lâu thì bị quân giặc xâm lấn. Ban đầu, lũ bầy tôi ham sống sợ chết để một mình nhà vua và ít quân lính bảo vệ vương quốc. Thất thế, vua vào rừng chiêu mộ binh sĩ và tập luyện. Một thời gian sau, nhà vua đánh đuổi được bọn xâm lăng nhưng người bị thương trong trận chiến cuối cùng. Trước khi chết, nhà vua bày tỏ tâm nguyện được gặp lại người con trai. Gặp nhà vua, cứu cha, cứu những người dân khỏi sự trừng phạt của thượng đế, hoàng tử phải đánh đổi bằng sinh mạng của mình.

Một năm sau, người ta thấy trên ngôi mộ của chàng và chung quanh khu vực đó mọc lên những bông hoa đỏ tươi như máu với thật nhiều gai nhọn từ gốc đến ngọn. Người ta cho đó là sự kết tinh lại của tình thương của chàng hoàng tử để nhắc nhở cho người đời bài học cao cả nhất về yêu thương và hạnh phúc. Người dân gọi loài hoa đó là hoa hồng. Cho đến ngày nay, dù có nhiều màu sắc khác nhau, nhưng hoa hồng vẫn mang nghĩa tượng trưng cho sự yêu thương.

Hoa phong lan

y-nghia-cac-loai-hoa-trong-phong-thuy2

Một bộ lạc tên Aruaki thời xa xưa may mắn sai khiến được loài chim Oócchít chuyên đẻ những quả trứng vàng. Từ đó, những người thợ lành nghề đã chế tạo ra các vòng tay, hoa tai và đủ các loại trang sức vàng và số trứng vàng dự trữ mỗi ngày một nhiều.

Một ngày kia, những người thợ săn bộ tộc khác đến lập mưu đồ chiếm đoạt con chim đẻ trứng vàng. Tuy nhiên, những cô gái xinh đẹp của bộ lạc Aruaki quyết bảo vệ loài chim quý kể cả khi phải hi sinh thân mình. Trước cái chết đó, thầy cúng gọi tên họ và nói:

– Các con đã xả thân bảo vệ kho báu của bộ lạc ta, các con xứng đáng được ban thưởng. Tâm hồn các con sẽ biến thành những bông hoa ngát hương, chúng sẽ không ngừng sinh sôi trên các cành cây kia và sẽ kể lại cho các thế hệ mai sau về chiến công bảo vệ loài chim mỏ vàng của các con.

Những bông hoa tuyệt vời tựa như các cô gái của bộ lạc Aruaki đang đua nở trên các cành cây. Người đời nay gọi đó là hoa Oóckhiđêa – hay là hoa phong lan.

Hoa thạch thảo

nhung-loai-hoa-sinh-ra-tu-chuyen-tinh-cam-dong2

Ngày xưa ở một ngôi làng vùng ngoại ô có một đôi trai gái là Ami và Edible, sống cạnh nhà nhau từ nhỏ nên rất thân. Đến khi Ami và Edible trưởng thành, Edible tuấn tú đã đem lòng yêu cô nàng xinh đẹp Ami. Tuy nhiên, cô gái Ami chỉ đồng ý lấy ai thoả mãn được yêu cầu là đem về cho nàng một loài hoa lạ và nàng cảm thấy thích. Chính Edible cũng không biết loài hoa Ami thích.

Ami và Edible thường hay cùng nhau vào rừng, Ami hái nấm còn Edible săn thú. Một hôm, vào lúc hoàng hôn, khi Ami và Edible đang trên đường về thì Ami gọi Edible và chỉ cho anh bụi hoa dạ màu tim tím mọc trên vách núi cao: “Loài hoa ấy, Ami thích, rất thích”.

Edible bất chấp hiểm nguy leo lên hái bằng được loài hoa Ami thích. Nhưng khi hái và thả bụi hoa xuống cho Ami thì Adible bị rơi xuống vách núi. Anh quay mặt về phía Ami nói, xin đừng quên tôi rồi nở nụ cười mãn nguyện và đi xa mãi.

Ami ngồi đó, ngồi bên bờ vực thẳm, ngồi như người mất hồn, không nói, không cười tay cầm lấy bụi hoa tim tím ấy. Ami không khóc, cô không ăn uống gì cả, suốt ngày chỉ lặng lẽ ngồi trong vườn chăm sóc cho bụi hoa tim tím. Cho đến một ngày cô đã chìm vào giấc ngủ dài để đến nơi cô và Edible đã gặp được nhau.

Sau khi Ami chết đi loài hoa tím ấy được người dân trong làng chăm sóc cẩn thận. Ai ai cũng thương xót cho đôi tình nhân trẻ. Loài hoa ấy ngày nay được gọi bằng cái tên For get me not. Việt Nam gọi tên loài hoa ấy là thạch thảo. Các đôi tình nhân trẻ thường tặng nhau loài hoa này với ý nghĩa yêu nhau mãi.

Sự tích hoa Xuyến chi

Ngày xửa ngày xưa, ở vùng nọ có một người con gái rất xinh đẹp. Ai mới nhìn cô lần đầu thôi là không thể quên được khuôn mặt rạng ngời như ánh trăng rằm, nụ cười như hoa ban sớm, cảm giác như có thể xua đi những mệt nhọc và những u sầu của mọi người. Ánh mắt trong sáng của nàng khiến cả những chú chim không còn biết sợ người, ngày nào cũng đậu trước nhà nàng cất tiếng hót véo von.

Vẻ đẹp của người con gái tuổi trăng tròn ấy không chỉ khiến những anh chàng trong vùng mà còn biết bao chàng trai ở những vùng lân cận muốn lấy nàng về làm vợ. Đã có bao người đến dạm hỏi cô – những anh chàng con nhà giàu tới nhưng bố mẹ cô đều không đồng ý vì họ muốn gả con gái cho một người quý tộc. Rồi như họ dự tính, một ngày kia có một người đàn ông cao to lực lưỡng, mặc áo nhung bào, cưỡi trên con tuấn mã cùng không ít nhưng người hầu mang lễ vật tới xin cưới nàng. Bố mẹ cô loá mắt trước số châu báu chàng rể mang tới và đồng ý cho cưới con gái ngay. Về phần Rain cô gái hiền dịu nết na xihn đẹp thì buồn rầu vì bố mẹ bắt ép cô lấy người đàn ông ấy. Không ai biêt được rằng cô đã đem lòng yêu Rom – một người làm của nhà Rain. Bố mẹ anh nợ gia đình Rain khoản tiền lớn nhưng không thể trả, thấy anh la người khoẻ mạnh nên nhà ấy đồng ý cho anh ở đợ để trả nợ dần. Rom cường tráng như một dũng sĩ nhưng khuôn mặt và nước da trắng cùng vầng trán rộng thông minh lại toát lên một vẻ đầy học thức. Anh khoẻ mạnh lại chịu thương chịu khó, làm việc quần quật cả ngày. Những khi anh làm chăn cừu trên những đồng cỏ xa thì Rain là người vẫn ngày ngày mang cơm cho anh. Cánh đồng cỏ từ lâu đã trở thành vùng trời riêng của hai người, họ tung tăng nô đùa, Rom hay thổi sáo cho Rain nghe, anh dậy cô chăn cừu, dậy cô làm chong chóng…

su-tich-hoa-xuyen-chi

Những lúc bên anh Rain luôn được cười ngây ngất. Ngày nào anh cũng tặng cô một bó hoa dại, những cánh hoa trắng mỏng manh như Rain vậy. Cô đón nhận những bông hoa trong niềm vui hân hoan như đón nhận tình yêu của anh vậy. Hai người tự lúc nào đã có tình cảm sâu nặng. Ngày nghe bố mẹ ép lấy chồng cô buồn lắm, hôm ấy cô không tới chỗ Rom mà chi lặng lẽ khóc trong phòng, cô biết bố mẹ không bao giờ chấp nhận Rom và cũng biết không thể làm họ thay đổi quyết định. Nhưng trái tim của cô đã dành trọn cho Rom. Vậy là ngày mai thôi cô phải xa anh, cô phải lấy một người lạ không một chút yêu thương. ” Phải làm sao đây?” cả đêm hôm ấy cô chỉ nghĩ một câu như thế và khi trời còn đang tối thì người con gái nhỏ bé đã quyết định một điều rất liều lĩnh, cô chạy tới chỗ Rom.

– Ôi người yêu của em. Chỉ tới bình minh lên là người ta đã đến rước em về làm vợ. Chàng hỡi, phải làm sao đây?

Rom đã nghĩ sớm muộn gì thì chuyện ấy cũng xảy ra nhưng tim anh vẫn như đông cứng lại. Anh siết mạnh cô vào ngực mà trái tim như muốn vỡ vụn ra. Hai người chỉ còn biết khóc.

– Rain. Bố mẹ anh đã mất. Nếu em có thể tin anh có thể chấp nhận cuộc sống khổ cực cùng anh, anh nguyện ở bên em mãi mãi. Chúng ta hãy trốn tới một nơi thật xa em nhé?

Rain cũng đã định như thế trước khi tới và hai người quyết định chạy thật xa. Cuộc sống họ sang một trang mới.

Họ chạy tới một khu rừng. Rom dựng một ngôi nhà nhỏ bên suối. Ngày ngày anh đi săn và bắt cá còn Rain thì kiếm hoa quả và ở nhà nấu cơm đợi chồng về. Hai người đã có quãng thời gian hạnh phúc cho tới một ngày kía. Ở trong rừng có một nữ thần của các loài hoa. Vẻ đẹp của nữ thần có thể quyến rũ tất cả những người đàn ông. Nữ thần có vẻ đẹp vừa sắc sảo vừa mặn mà mê hồn người. Một ngày nọ nàng ta vô tình thấy Rom đang đi săn trong rừng. Trước vẻ cường tráng thanh tú của chàng nữ thần đã say đắm và quyết tâm có chàng bằng bất cứ giá nào. Vị thần khi yêu trở nên ích kỉ đến lạ. Nàng biến thành một con nai. Rom mải mê chạy theo con mồi và không biết đã lạc sâu trong khu rừng tự khi nào nữa và cuối cùng con nai đứng trước một toà lâu đài. Rom vô cùng sửng sốt và ngạc nhiên tại sao trong khu rừng tưởng không có người này lại mọc lên một toà lâu đài nguy nga tráng lệ đến như vậy. Chàng tò mò vào xem có ai không, càng sửng sốt hơn khi thấy đầu tiên là một phòng khách rộng thênh thang trải thảm đỏ và tất cả những đồ đạc trong căn phòng đều bằng toàn những bạc, vàng, ngọc thạch. Rom tò mò:

– Xin chào! có ai ở nhà không ạ?

Bỗng có một người ăn mặc bình thường, đầu đội khăn xếp có lẽ là người hầu chạy ra.

– Dạ thưa ngài, chủ nhân của tôi đang đợi ngài trong này ạ!

Chưa hết ngạc nhiên thì lại có tin có người đợi mình. Anh hơi lo lắng nhưng vẫn đi theo người đầy tớ. Vừa vào căn phòng thì bỗng có một người con gái xinh đẹp rạng ngời như hoa bước ra, nàng mặc một chiếc váy ren lấp lánh ánh vàng như nữ thần mặt trời hiện ra truớc mắt Rom.

– Xin chào công nương! Anh đưa tay ra ngực chào tôn kính.

– Ôi! xin chàng đừng khách sáo với em. Trước chàng em chỉ là một cô gái yếu đuối mà thôi. Em đã đợi chàng từ rất lâu rồi. Chàng hãy ngồi xuống đây để đôi ta nói chuyện tâm tình!

– Dạ thưa công nương. Tôi đi săn thì vô tình lạc tới đây, giờ cũng đã xế chiều xin cáo lỗi nàng ta còn phải về sớm, vợ ta đang đợi ta ở nhà!

– Chàng hỡi, ta ở trong toà lâu đài này đã lâu lắm, chàng là vị khách đầu tiên của em. Hôm nay em vui lắm, xin chàng đừng từ chối. Chàng hay ở lại thêm một lát cùng em uống chút rượu cho vui!

Nàng mời nhiệt tình và dù sao thi chàng cũng là vị khách đầu tiên nên không nỡ từ chối. Chàng đành ở lại. Nữ thần cho người bày yến tiệc, bao nhiêu là sơn hào hải vị mà chàng chưa từng thấy bao giờ. Rồi một đám nữ tì xinh đẹp ra múa hát. Đích thân nữ thần rót rượu mời chàng và họ say sưa trong các vũ điệu, Rom đã hơi say không còn nhớ Rain đang đợi chàng về nữa. Rồi tới khi trời đã tối hẳn thì chàng cũng say. Nữ thần dìu chàng vào phòng ngủ. Trước ánh mắt mê hồn âu yếm và bàn tay mơn trớn của nữ thần chàng như không còn nhớ mình là ai và đã cùng nàng ân ái. Trong khi ấy Rain ở nhà lo lắng cả đêm không chợp mắt, nàng định chạy đi tìm chàng nhưng rừng sâu biêt tìm đâu và lại sợ nhỡ Rom về mà không thấy mình lại lo lắng.Sáng ra khi tỉnh dậy Rom ngỡ như một giấc mơ nhưng mà chàng biết mình đã làm gì. Thấy có lỗi với Rain. Đúng lúc ấy nữ thần vào kéo chàng dậy:

– Chàng không mơ. Em hạnh phúc khi có chàng! Nàng áp đầu vào ngực Rom, quả thật chàng cũng thấy một cảm giác đê mê là lạ.

– Không. Ta xin lỗi. Ta đã không phải với nàng. Ta còn vợ nữa. Ta không thể. Ta…

– Em yêu chàng. Em không thể sống thiếu chàng. Chàng vẫn về với vợ nhưng hãy ngày ngày tới thăm em. Em rất cô đơn. Chàng không phải đi săn. Em có tất cả! nói rồi nàng khóc.

Không hiểu sao dù vẫn cảm thấy có lỗi với Rain nhưng trước những giọt nước mắt của nữ thần chàng không thể từ chối. Trước khi Rom về nữ thần đưa cho chàng một bông hoa hồng tươi thắm về tặng vợ. Khi về tới nhà thấy Rain đang ngủ gục trên bàn đợi mình Rain cảm thấy có lỗi. Chàng vuốt tóc vợ. Nàng tỉnh dậy ôm lấy chàng:

– Anh làm sao không? tại sao đêm qua anh không về. Em rất lo!

– Anh xin lỗi! Hôm qua mải đuổi theo con mồi anh bị lạc khi trời đã sẩm tối nên ngủ lại trong rừng. Rồi chàng rút bông hoa trong ngực ra:

– Anh yêu em lắm!…

Những ngày sau đó ngày nào Rom cũng đi săn nhưng thực tế là chàng tới chỗ nữ thần. Họ lại say sưa trong men rượu men tình. Và mỗi chiều trước khi Rom về ngoài những con thú nữ thần không quên đưa cho anh một thứ gì đó.

Khi thì:

– Anh đã gặp một thương nhân và ông ta đã đồng ý đổi bộ chiếc váy này lấy con nai!

Chiếc váy trắng thêu kim tuyến lấp lánh và điểm thêm mấy bông hoa trước cổ trông mới thướt tha làm sao. Rain nhìn chiếc váy lộng lẫy vô cùng thích thú. Cô vui vì chàng luôn quan tâm tới nàng. Ngày sau, Rom lại mang cung vào rừng rồi tới chỗ nữ thần. Khi về chàng mang theo chuỗi hạt xoàn.

– Em ơi. anh về rồi. Hôm nay người thương nhân đổi cho anh này. Ông ấy còn bảo nếu có nhiều thú rừng thì sẽ đổi được nhiều thứ nữa em ạ.

Chuỗi hạt xoàn nhỏ hơi biếc xanh lấp lánh trên cổ gầy cao làm rain càng thêm quý phái. Rain như mọi ngày chạy ra ôm lấy cổ chồng và đón nhân món quà không một chút nghi ngờ. Cứ thế mỗi ngày sau khi vui vẻ từ chỗ nữ thần về Rom không quên mang về cho Rain những của ngon vật lạ, châu báu, cùng những tiếng yêu thương tha thiết. Tất cả những thứ Rom đem lại cho Rain đều đẹp, đều lung linh như tranh vẽ. Cô vui vẻ đón nhận không phải vì những món quà đắt tiền mà đó là sự thể hiện tình yêu tha thiết của Rom.

Rồi một ngày kia như thường lệ nữ thần lại đưa cho Rom mang về một vật. Đó cũng là món quà cuối cùng mà anh có thể dành cho vợ. Rom cầm chiếc gương nạm ngọc ấy về nhà. Nhưng không hiểu sao lần này sau khi đón nhận món quà của chồng cô không cười nói líu lo như mọi hôm. Rom thấy lạ nhìn vợ đang trân trân nhìn vào gương chàng cũng nhìn vào xem thì… Tất cả sự thật phơi ra trong gương, Rom không giải thích được gì và thật ra cũng không có gì để giải thích nữa, tất cả… Rom lạc tới toà lâu đài, những ngày vui vẻ với nữ thần và cả những lời ngọt ngào với Rain. Cô không thể khóc. Trời đất như sụp dưới chân cô. Tim cô vỡ vụn. Rain chỉ còn biết chạy và chạy, cô không biết mình đi đâu chạy mãi… Rom hối hận nhưng tất cả đã muộn. Anh chạy tìm Rain. Chạy mãi tới khi không còn sức lực nữa cuối cùng anh ngồi lại bên bìa rừng thì… một khóm hoa trắng nở rộ những bông hoa nhỏ mỏng manh những bông hoa mà ngày xưa anh vẫn ngày ngày tặng cho Rain bé nhỏ. Tất cả đều tan biến và thứ còn lại trong tất cả của Rain là những bông hoa trắng ngày xưa – hoa xuyến chi…

Theo sưu tầm

Sự tích Hoa cải vàng

Ngày xưa, tại vùng đồi núi nọ, có một cụ già chỉ bán dao kéo mà nổi tiếng khắp gần xa. Không ai biết ông cụ ở đâu. Cũng không biết ông đi mua dao kéo hay làm ra dao kéo để bán. Vùng này lâu lâu mới họp chợ. Nhưng không phải phiên chợ nào ông cũng đến. Mà thường chỉ có mặt vào những phiên chợ cuối tháng. Vì vậy, mỗi lần thấy ông, mọi người lại xô đến mua dao kéo. Người trong vùng ai cũng biết là dao kéo ông cụ bán vừa sắc, vừa bền. Ngoài ra, người ta đồn ông còn bán cả những con dao, cái kéo kỳ lạ nữa. Lần ấy có một gã dáng vẻ ngông nghênh đến hỏi mua một con dao lớn. ông cụ nhìn mặt gã rồi hỏi rất nhẹ nhàng:

-Anh mua con dao này để làm gì?

-Để chặt cây. ông già nhìn kỹ vào đôi mắt gã kia và biết là gã nói dối. ông liền bảo:

-Con dao này đã có người mua! Gã kia trợn mắt quát to:

-Có người mua, sao không nói ngay, lại còn hỏi ta mua để làm gì? Gã định giở trò cướp không con dao.

su-tich-hoa-cai-vang1

 

Nhưng ông cụ đã nhanh tay cầm trước con dao và nói:

-Đây là một con dao quý. Tôi có thể dùng nó chém đổ cái cây bên kia đường. ông cụ nói xong, dùng dao chém nghe vù một cái. Lập tức cái cây bên kia đường kêu rắc rắc một tiếng và đổ gục xuống. Gã kia sợ quá. Gã hiểu rằng nếu gã định giở trò gì thì ngay lập tức, có thể bị ông cụ dùng con dao ấy, chém gãy tay, thậm chí đứt đầu mà con dao không cần chạm đến người. Gã ta chuồn thẳng. Hỏi ra mới biết đó là một tay trộm cướp nhiều người đã biết mặt. Một lúc sau, một người trai trẻ khác đến hỏi mua con dao nọ. ông cụ nhìn anh, hỏi nhẹ nhàng:

-Anh mua con dao này để làm gì?

-Thưa cụ! Để cùng dân làng cháu đánh đuổi bọn cướp ở nước bên kia, cứ thỉnh thoảng kéo sang cướp của, giết người… ông cụ nhìn kỹ vào đôi mắt chàng trai và biết đây là một người tốt. ông bán ngay con dao nọ cho chàng trai với cái giá không đắt như mọi người tưởng. ông còn bày cho anh cách tập dùng dao để có thể chém giết những tên giặc cướp từ xa. Sau đấy khá lâu, có một chú bé chừng mười bốn tuổi, mười lăm tuổi tìm đến gặp ông cụ ở chợ phiên. Chú mừng lắm. Nhưng chú chỉ đứng nhìn ông trân trân… ông cụ liền hỏi:

-Cháu muốn gì cứ nói cho ta biết!

-Thưa cụ, không biết có cái kéo nào… Chú bé ngập ngừng. ông cụ lại khuyến khích chú:

-Cháu cần thứ kéo gì? Thấy vẻ mặt ông vẫn hiền lành, vui vẻ, chú bé mới dám nói thêm:

-Thưa cụ, cái thứ kéo có thể cắt được… nắng ấy mà! Mọi người đứng xung quanh đấy cười ồ lên… trừ ông cụ. ông cụ ôn tồn hỏi chú bé:

-Cháu cần cắt nắng để làm gì?

-Thưa cụ, bà cháu già yếu quá. Mùa đông vừa mới đến mà ban đêm, đắp chiếu nằm trên ổ lá, bà cháu kêu là rét quá cứ như nằm trên nước… Bà cháu ốm liền hai trận. Bà cháu ước có cái kéo, cắt được một vạt nắng mang về cất giữ, đêm đến mang ra cho bà cháu đắp, chắc bà cháu sẽ được ấm, sẽ khỏi bị ốm và chết vì rét ạ!

-Nhà cháu ở gần đây chứ?

-Thưa cụ xa lắm ạ. Cháu phải đi mất hai ngày đường.

-Bố mẹ cháu đâu?

-Thưa cụ, bố mẹ cháu mất sớm cả rồi. Bà cháu đã vất vả nuôi cháu từ bao năm nay.

-Bà bao nhiêu tuổi rồi, còn làm gì được không?

-Thưa cụ, sang năm là bà cháu đúng bảy mươi tuổi đấy ạ! Bà cháu vẫn nhúc nhắc dệt cho nhà người ta mỗi ngày được một ít vải để kiếm gạo ăn.

-Còn cháu?

-Cháu đi chăn lợn cho nhà hàng xóm, và cũng bắt đầu đi xin học dệt ạ. ông cụ nhìn chú một cách trìu mến rồi bảo:

-Cháu ạ! Đây là lần đầu tiên ta nghe có người hỏi mua kéo để cắt nắng… Cũng hay, hay lắm. Nhưng ta chưa có để bán cho cháu ngay được… Phiên sau, ta sẽ mang kéo đến đây. Liệu cháu có thể đến được lần nữa không?

-Thưa cụ, một lần chứ hai lần, ba lần, cháu vẫn xin đến. Vào ngày phiên chợ sau chú bé lại đến ngóng đợi ông cụ. Mọi người biết chuyện cũng kéo đến xem. ông cụ đến chào mọi người rồi đưa cho chú bé một cái túi xếp bằng bẹ chuối khô. Chú bé mở ra thấy một cái kéo, chỗ cầm cắt thì bằng sắt nhưng lưỡi lại bằng cật tre, và kèm theo một mảnh giấy có chép mấy câu thơ. ông cụ bảo chú bé:

-Cháu cứ làm đúng theo mấy câu này thì sẽ cắt được nắng cho bà cháu đắp. Ta biết cháu nghèo lắm nên tặng cho cháu cái kéo này. Thôi, cháu về đi. Ta cũng phải đi ngay vì có hẹn với khách hàng ở nơi khác. Nói xong, ông xách bị dao kéo đi luôn. Mọi người xúm lại bảo chú bé đọc mấy câu thơ, chú liền đọc: Kéo cắt một lần Biến mất liền tay Nắng chảy thành sợi Cắt ngay! Cắt ngay! Cái chăn toàn nắng ấm đêm ấm ngày Chăn truyền hơi ấm Nhà ấy, nhà này, Nắng chui xuống đất Trở về, lung lay… Mang cái kéo và mấy câu thơ về làng, chú bé kể lại hết mọi chuyện cho bà nghe. Cả hai bà cháu nghĩ mãi mà vẫn chưa hiểu mấy câu thơ nói gì. Một buổi trưa, đang ngồi bần thần nhìn mấy tia nắng từ mái nhà tranh dột nát rọi xuống nền nhà, chú bé bỗng reo lên:

-Đúng là nắng chảy thành sợi kia rồi! Chú bé liền chạy đi lấy cái sàng gạo, rồi leo lên mái nhà. Chú bới chỗ mái tranh bị dột nát cho rộng ra rồi đặt cái sàng vào đó. Mặt trời rọi xuống, cái sàng có bao nhiêu lỗ thì có bấy nhiêu tia nắng rọi xuống, nhìn cứ vàng óng. Chú bé liền đem cái kéo của ông cụ cho thử cắt những sợi nắng xem có cắt được không. Lạ lùng chưa, những sợi nắng theo nhau rơi xuống cứ óng ánh, lấp lánh. Chú bé liền cắt tiếp. Những sợi nắng chồng lên nhau cao dần. Chú lại cắt nữa, cắt nữa. Bây giờ thì những sợi nắng đã vun lên thành một đống khá cao. Bỗng chú bé “ồ” lên một tiếng. Cái kéo tự nó đã biến mất ở ngay trong tay chú bé lúc nào không hay. Chú bé liền chạy ra vườn sau mừng rỡ gọi bà về. Thấy cả một núi sợi nắng nằm sáng rực ở giữa nền nhà, bà cụ mừng quá cứ tưởng mình đang nằm mê.

su-tich-hoa-cai-vang

-Bà ơi! Cháu và bà hãy dệt những sợi nắng này thành một tấm chăn thật dày. Bà không còn phải lo bị rét, bị ốm nữa! Hai bà cháu dệt xong tấm chăn thì người trong xóm kéo đến chật cả nhà. Ai cũng sờ tấm chăn và ai cũng khen là ấm quá. Chú bé sực nhớ hai câu thơ:

Chăn truyền hơi ấm Nhà ấy, nhà này Chú liền bảo mấy người hàng xóm mang chăn của họ đến nhà chú. Chú trải từng cái chăn của họ rồi đắp cái chăn vàng óng của bà mình lên trên. Chỉ một lúc sau, cả hai cái chăn đều ấm như nhau. Người xóm gần xóm xa thấy thế mừng quá liền rủ nhau mang chăn đến để xin cái hơi nắng ấm. Nhớ ơn ông cụ đã cho mình cái kéo có phép lạ, chú bé liền đi tìm ông để tạ ơn. Nhưng một lần, rồi hai lần, đi chợ phiên chú bé không làm sao gặp lại được ông cụ. Chú bé đành buồn rầu ra về. Nhờ có cái chăn ấm, tuổi thọ của bà cụ được kéo dài ra. Chú bé đã thành một chàng trai, dệt giỏi có tiếng. Chàng trai lấy vợ rồi có con. Bà cụ vui lắm. Nhưng rồi cũng đến lúc bà phải từ giã cõi đời. Trước khi nhắm mắt, bà dặn các cháu chắt:

-Các cháu đã thương bà hết lòng. Bà con ai cũng yêu quý các cháu. Bà chết mà lòng rất nhẹ nhàng. Nhớ đến cái chăn quý, bà cụ lại dặn:

-Bà về với đất, đất ấm chứ chẳng lạnh đâu. Các cháu cứ giữ cái chăn quý lại mà dùng. Ngày chôn cất bà cụ, trời bỗng trở rét đậm. Hai vợ chồng người cháu bàn nhau mang cái chăn quý ra đắp lên trên mộ cho bà được ấm. Trời xẩm tối. Bó hương cắm ở đầu nấm mồ đỏ rực. Cái chăn phủ lên nấm mồ cũng sáng bừng lên.

Hai vợ chồng người cháu ngồi bên nấm mồ một lúc lâu rồi trở về nhà. Nửa đêm thức dậy, nhìn ra nấm mồ của người bà, chôn ngay trên cái gò ở trước mặt nhà, hai vợ chồng người cháu bỗng thấy có khói bốc nhiều trên nấm mồ. Hai vợ chồng chạy ra thì thấy tàn lửa của bó hương bay đáp xuống làm cái chăn cứ cháy âm ỉ, lửa không bốc thành ngọn. Cái chăn đã thành tàn tro đen. Sáng hôm sau, ra thăm lại mộ thì những tàn tro đen của cái chăn đã bị gió thổi bay tản mạn khắp trên gò. Mùa đông năm sau đến. Cái gò trước kia, vào mùa giá rét, thường vẫn trở lạnh, vắng vẻ, năm nay bỗng mọc đầy một loài cây mới lá xanh một màu xanh thật hiền lành, lặng lẽ. Khi những cây ấy trổ hoa thì cả khu gò vàng rực lên như được phủ đầy nắng. Gió bấc thổi, cả khu gò đầy hoa vàng lại lung lay. Mãi đến lúc này, người cháu mới sực nhớ đến hai câu cuối trong bài thơ: Nắng chui xuống đất Trở về, lung lay Như thế có nghĩa là loài cây mới, có hoa vàng như nắng này là từ những tàn tro của cái chăn dệt bằng những sợi nắng, vùi xuống đất, sinh ra. Qua hết mùa hoa, những cây kia kết quả. Những quả nhỏ và dài trong đựng đầy những hạt nhỏ li ti, màu nâu đen, nhìn giống như những tàn tro của chiếc chăn quý. Mang những hạt ấy về vườn gieo vãi, bà con trong xóm lại thấy mọc lên loài cây mới mà ngày nay ta gọi là cây Cải Hoa Vàng.

Bà con thường gieo cải trên những mảnh vườn lớn, nhỏ, khi cải nở hoa, từng mảnh vườn lớn, nhỏ ấy cứ vàng rực như từng mảng nắng lớn, có gió thổi cứ khẽ đong đưa, đong đưa… và từng bông hoa như muốn nói một điều gì với ai đang nhìn nó.

Sự tích hoa Violet

Ở một tỉnh miền nam nước Pháp, nơi có những cánh đồng cỏ xanh rì như những dải lụa xanh thăm thẳm, lóng lánh trong ánh nắng là những dòng suối trong veo, những thảm hoa tươi thắm sặc sỡ màu sắc của sự phồn vinh, những đàn bò thản nhiên gặm cỏ, từng đàn gia súc chen chúc nhau, nơi đó có một trang trại rộng xa ngút ngàn của một vị Bá Tước đầy quyền uy và giàu có

su-tich-hoa-violet

Ông ta có tất cả mọi thứ quí giá nhất trên đời, nhưng điều mà ông ta hãnh diện nhất đó chính là cậu con trai duy nhất. Cậu chủ Anfaret là một chàng trai thật tuyệt vời, rất đẹp trai, thông minh, hào hoa phong nhã và rất tài hoa. Chàng có sức hút rất mãnh liệt với tất cả các cô gái con nhà quí tộc trong vùng, chàng là niềm tự hào của cả dòng tộc. Cuộc sống bình yên trôi qua, cho đến một ngày xuất hiện cô gái làm vườn mới, tên nàng là Violeta.

Violeta là một cô gái con nhà nghèo, nhà nàng nghèo nhất trong vùng, thuộc tầng lớp bần cùng nhất trong xã hội lúc bấy giờ. Nàng không có một sắc đẹp lộng lẫy nhưng vẻ hiền dịu trong trắng thanh thoát thơ ngây toát ra từ gương mặt dịu dàng như Đức mẹ của nàng đã khiến cả khu vườn như bừng sáng, khu vườn nhờ có bàn tay nàng càng rực rỡ sắc hoa. Và cũng chính gương mặt như thiên thần ấy đã làm cho trái tim chàng Anfaret rung động và tình yêu đã đến. Vượt qua khoảng cách giai cấp, họ đến với nhau thật nồng nàn say đắm, nhưng vào thời đó sự khác biệt giai cấp đã gây ra bao mối tình, không ai chấp nhận mối tình ấy và rồi tình yêu đó đã đến tai cha mẹ chàng, sóng gió bắt đầu nổi lên cho đôi bạn trẻ.

Cha chàng trai đã nổi trận lôi đình, ông cảm thấy thật nhục nhã và ra sức ngăn cản tình yêu của họ, mẹ chàng thì ngày càng căm ghét ra sức hành hạ nàng Violet, nhưng nàng vẫn cắn răng chịu đựng tất cả. Nhưng lẽ đời vốn vậy, tình yêu càng ngăn cản thì càng trở nên nồng thắm, gắn bó hơn. Họ vẫn lén lút gặp nhau, vẫn trao cho nhau những nụ hôn những vòng tay nồng ấm, dường như mọi thứ không thể ngăn cản được tình yêu của đôi bạn trẻ.

Rồi một hôm cha mẹ chàng cũng phát hiện ra và trận bão phẫn nộ xoáy trút lên người nàng Violeta . Ông ta nhốt Anfaret vào phòng rồi cho gọi Violetta đến, sau một trận đòn ông ta tuyên bố nếu nàng vẫn còn tiếp tục gặp Anfaret thì ông ta sẽ đuổi nàng ra khỏi nhà. Ông không thể chấp nhận một người thuộc tầng lớp bần cùng nhất trong xã hội như nàng trong nhà được, nếu nàng yêu Anfaret thì hãy rời xa chàng, vì nếu không chính nàng sẽ cản trở tương lai của chàng, nếu yêu nàng chàng Anfaret sẽ mất tất cả, sẽ không còn địa vị danh dự trong xã hội, ông ta còn đe doạ sẽ bắt mẹ nàng để làm áp lực. Biết là dù có khóc lóc van xin cũng vô ích trước sự sắc đá của Bá tước, vì tình yêu nồng thắm với Anfaret, vì lòng hiếu thảo, Violeta cuối đầu chấp thuận từ đó nàng bắt đầu xa lánh Anfaret…

Nhưng Anfaret là một chàng trai kiên định, chàng không vì thế mà khuất phục… Chàng vẫn tìm đến Violeta dù nàng cố tình tránh mặt. Ngày qua ngay cha mẹ chàng rất tức giận, Bá tước cố tìm mọi cách ngăn cản họ, nhưng vẫn bất lực. Cuối cùng, một hôm ông ta đã nghĩ ra một cách, bèn gọi Anfaret lại và nói :

– Ta sẽ không ngăn cản con nữa, nhưng con phải hứa với ta một đìều kiện, con phải lên Paris học thành tài, sau 5 năm trở về ta sẽ cho con cưới Violeta, nếu con không chấp nhận ta sẽ gả cô ta cho Adrey người làm vườn xấu xí, hãy vì tương lai của con cũng như của nó mà quyết định đi. Một là sau khi trở về con sẽ có Violeta, hai là hai đứa sẽ mất nhau vĩnh viễn. Nhưng khi con ra đi, nó vẫn phải ở lại đây làm việc như trước. Hãy lựa chọn đi con trai yêu quí của ta!

Trước quyết định đó, đôi bạn trẻ đành phải xa nhau và hứa hẹn ngày trở về. Đêm cuối cùng bên nhau, nước mắt nàng thấm đẫm vai áo chàng, Anfaret hứa rằng sẽ trở về để cưới nàng làm vợ, chàng hứa rằng sẽ viết thư về thường xuyên cho nàng, hãy vững tin và chờ chàng trở về, bởi tình yêu chàng dành cho nàng mãi mãi không gì có thể ngăn cách được. Nhưng Violeta dường như linh cảm được rằng có lẽ đây là lần cuối cùng họ còn được bên nhau, nhưng nàng vẫn im lặng vì không muốn làm chàng xao lòng. Chàng Anfaret ra đi, mang theo trong lòng hình ảnh thân thương và đôi mắt đau đớn của người yêu.

Violeta ở lại trang trại chịu mọi sự hành hạ của gia đình Bá Tước, họ xem nàng như cái gai trong mắt nên không từ một thủ đoạn nào để hành hạ nàng, nhưng Violeta vẫn cắn răng chịu đựng tất cả vì tình yêu dành cho Anfaret. Nhưng rồi ngày qua ngày, bóng chim tăm cá, nàng không hề nhận đuợơc tin chàng, không một lá thư hay lời nhắn trở về trang trại. Nàng âm thầm mỏi mong chờ đợi, bao đêm nàng khóc ướt đẫm gối vì thất vọng…. Rồi một hôm, mẹ chàng đưa cho nàng một bức điện tín và nói rằng hãy quên Anfaret đi, vì chàng sắp cưới con gái Nam tước bạn của Bá Tước tại Paris. Nghe tin như sét đánh ngang mày, nàng ngất xỉu trước nỗi đau ấy, nàng đau đớn gần như chết lịm, cũng từ hôm ấy nàng trở nên câm lặng. Sự hành hạ cùa gia đình Bá tước ngày càng khắc nghiệt hơn, nàng không được ăn no, phải dậy từ sáng sớm, làm việc quần quật từ sớm tới khuya, lại thêm phần đau khổ trong lòng, uất ức vì chàng Anfaret phụ tình nên sức khoẻ của nàng ngày càng suy sụp. Và rồi một đêm mưa gió họ đã đuổi nàng ra khỏi nhà, từ đó không ai còn biết tin tức gì của nàng nữa.

Còn về phần Anfaret, 5 năm sống nơi thủ đô Paris tráng lệ, TY của chàng không hề suy chuyển, hình bóng nàng Violeta vẫn lung linh trong trái tim chàng, chưa một ngày nào chàng không nhớ về người yêu đang ở trang trại chờ chàng trở về. Mỗi tuần chàng đều gửi một lá thư về cho nàng, động viên nàng hãy ráng đợi chàng trở về, tin tưởng tình yêu của chàng, rằng cuộc đời chàng chỉ yêu duy nhất có nàng mà thôi, chàng sẽ trở về và cưới nàng làm vợ. Những hỡi ơi, cả chàng và Violeta nào có ngờ đâu, những lá thư tình yêu ấy chưa bao giờ đến được tay nàng Violeta. Chàng có ngờ đâu khi chàng ra đi bao sóng gió đã đổ ập lên người chàng yêu dấu. Chàng vẫn tin rằng bằng sự cố gắng của mình để học thật nhanh mà trở về ….

Và rồi ngày cuối cùng của 5 năm đã đến, sắp đến ngày trở về. Trước ngày tốt nghiệp, chàng muốn quay về bất ngờ để báo tin cho nàng biết rằng chàng sắp được cưới nàng, rằng họ sắp được bên nhau. Nhưng hỡi ôi, khi chàng quay trở về nhà thì mọi thứ không còn như trước, nàng Violeta đã không còn ở đó nữa, gia đình chàng tìm mọi cách bôi xấu nàng nhưng Anfaret không hề tin. Chàng như điên dại chạy khắp nơi tìm kiếm hình bóng người yêu, chàng óan hận cha mẹ đã đuổi nàng, hành hạ nàng qua lời kể của Adrey người làm vườn, cũng là người đã đối xử với Violeta rất tốt.

Chàng bôn ba khắp nước Pháp tìm nàng, dò hỏi người quen, chàng không tiếc gì tiền bạc đi khắp nơi nhưng vẫn bặt tin nàng. Cho đến một ngày, trải qua bao tháng tìm kiếm vô vọng, sức cạn lực kiệt, chàng lâm bệnh nặng tưởng chừng như không thể qua khỏi, cha mẹ chàng xót con nên đành phải tung tiền ra thuê người tìm kiếm lần nũa, nhưng bóng dáng nàng Violeta vẫn bặt tăm. Họ hối hận vì đã gây cảnh đau lòng để giờ đây nhìn đứa con trai yêu quý đang thoi thóp trên giường trong nỗi đau khổ tột cùng. Họ đã đưa tin khắp nước Pháp nếu ai tìm được nàng Violeta họ sẽ không tiếc bất cứ thứ gì…Hai năm trôi qua, bệnh tình chàng Anfaret ngày càng trầm trọng, cả dòng tộc gần như tuyệt vọng thì một hôm xuất hiện một cậu bé rách rưới với bộ dạng lo lắng hốt hoảng dừng lại ở trang trại đem lại tin tức về Violeta, nhưng cậu bé chỉ đòi gặp chàng Anfaret và chỉ muốn nói riêng với chàng. Nghe được tin này, chàng Anfaret chợt bật dậy, chạy như bay đến bên cậu bé, ôm chầm lấy cậu mừng rỡ mà không kịp nhìn vào đôi mắt đang rơi lệ của cậu, cậu bé ấy chính là em trai của Violeta. Cậu bé đưa tay ra cho chàng và nói : “ Cậu chủ hãy đi theo cháu!”

Dường nhu có một sức mạnh thúc đẩy, chàng Anfaret cố gượng đi theo cậu bé, đi thật xa, thật lâu, về tận một vùng thật hẻo lánh, một nơi rất xa trang trại mà không ai có thể ngờ tới,. Cậu bé liên tục thúc hối chàng đi thật nhanh, trông câu rất vội vã….Quãng đường xa khiến Anfaret như kiệt sức, cha mẹ chàng cũng gần như ko đủ sức để đi tiếp, muốn được nghỉ ngơi nhưng cậu bé vẫn không muốn dừng, cậu luôn thúc hối mọi người đi thật nhanh, cậu nói : “Xin các ngài hãy theo cháu mau lên kẻo không kịp.”

Anfaret dường như linh cảm được điều không lành đang xảy đến nên chàng vẫn tiếp tục lên đường. Và rồi, khuất sau những ngọn núi kia là một vùng quê thật hẻo lánh nghèo nàn, trong một căn nhà tối tăm nàng Violeta đang trong cơn hấp hối., xanh xao gầy gò, chỉ còn đôi mắt như đang trông ngóng điều gì, đôi môi nàng trong cơn mê sảng vẫn gọi tên Anfaret không thôi. Anfaret bàng hoàng đau đớn, chàng vừa chạy đến quỳ bên nàng thì cũng là lúc nàng nhắm mắt, không còn kịp nhìn thấy Anfaret. Chàng bật khóc gào thét tên Violeta, van xin mọi người hãy cứu lấy nàng…nhưng …mọi người đều quay đi và rơi lệ…Violeta đã mãi mãi ra đi mà không kịp nhìn thấy gương mặt của người nàng yêu dấu và chờ đợi….

su-tich-hoa-violet1

Cậu bé đã kể cho chàng nghe tất cả mọi điều, từ ngày nàng rời khỏi nhà Bá tước, đã mang trong người căn bệnh hiểm nghèo, hậu quả của những ngày bị hành hạ ngày ấy…Nhưng nàng vẫn cố thoi thóp sống mong ngày chàng Anfaret trở về…nàng vẫn muốn chờ đợi ngày chàng về để nói với chàng rằng nàng vẫn yêu nàng, vẫn chờ đợi chàng…rằng vẫn không tin chàng đã phản bội lại lời thề hứa năm xưa…rồi mới thanh thản ra đi…nhưng tất cả đều đã muộn…nàng đã ra đi ko kịp nói lời trăn trối…ko kịp nhìn thấy chàng Anfaret…

Cha mẹ chàng nhìn thấy cảnh đau thương đó đã gục xuông trước mặt nàng mong nàng tha thứ…nhưng nàng nào còn biết gì?

– Cha mẹ đã vừa lòng chưa?- Anfaret gào lên thảm thiết – các người đã thoả mãn chưa? Nàng đã ra đi thật rồi, nàng bỏ ta rồi, ta còn sống để làm gì nữa” – Ánh mắt và giọng nói của Anfaret như vang từ cõi xa xăm nào đó….

Đám tang Violeta được đưa về trang trại tổ chức với những vòng hoa hồng trắng muốt, trắng tinh khiết như gương mặt im lìm lạnh giá của nàng Violeta. Còn Anfaret, chàng ôm lấy linh cữu của Violeta không rời, môi chàng mấp máy gọi tên ngườI yêu như một kẻ mất trí…Ai nhìn vào đều cũng phải rơi lệ, khuyên giải thế nào chàng cũng bỏ ngoài tai. Và từ đó, chàng không hề rời khỏi nàng, ngày này sang ngày khác chàng vẫn ngồi im lìm bên mộ nàng, nỗi đau ấy không thể vơi đi, Anfaret như một kẻ mất trí, chỉ biết kêu tên nàng trong nỗi đau tột cùng. Tình yêu ấy quá lớn, tình yêu ấy đã trở nên bất diệt trong lòng chàng. Cha mẹ chàng trở nên bất lực không thể khuyên gì chàng được nữa vì bản thân họ cũng cảm thấy quá ân hận. Trang trại phồn vinh ngày nào giờ đây chìm trong ảm đạm u uất…

Rồi một ngày cuối Đông, vì kiệt sức và cũng vì quá đau khổ chàng Anfaret đã gục ngã trút hơi thở sau cùng tbên mộ nàng Violeta. Di chúc sau cùng chàng chỉ muốn được chôn chung cùng nàng. Mùa Đông lạnh lẽo trôi qua, mùa xuân lại trở về nơi trang trại, nơi đây chỉ còn lại vợ chồng Bá tước già hiu quạnh, ai cũng tiếc thương cho mối tình của chàng Anfaret và nàng Violeta.

Một buổi sáng thức dậy, người ta bỗng chợt nhìn thấy trên mộ hai người xuất hiện một nhánh hoa màu tím vươn cao trong gió, một màu tím ngát thắm sắc cả khu vườn, cành khẳng khiu nhưng vẫn vững vàng trước gió, vươn cao mạnh mẽ như tình yêu bất diệt của chàng Anfaret và nàng Violeta. Người ta tiếc thương cho cô gái nết na hiền dịu, tiếc thương cho một mối tình ngang trái chung thuỷ ấy bèn đặt tên cho loài hoa ấy là VIOLET, loài hoa mang tên người con gái bạc mệnh. Một màu hoa mang màu tìm thuỷ chung!

Sự tích hoa cát tường

Ngày xưa, có hai mẹ con nọ sống đầm ấm trong một ngôi nhà tạm bợ. Ngày ngày, người mẹ đi làm thuê để nuôi đứa con trai ăn học.

Bà chỉ mong sau này con đỗ đạt để được nương tựa tấm thân già. Không phụ lòng mong mỏi của bà, đứa con ngày càng học giỏi, nổi tiếng là thần đồng khắp cả vùng. Không những thế, cậu ta sống vui vẻ với mọi người và rất có hiếu với mẹ. Trong làng, gia đình nào cũng mơ ước có được đứa con như vậy.

su-tich-hoa-cat-tuong

Một ngày nọ, bỗng nhiên cậu ta lăn đùng ra tắt thở. Người mẹ vật vã, chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần. Bà khóc đến nỗi khô cả nước mắt. Dân làng rất tiếc thương cho mạng số ngắn ngủi của cậu bé và xót xa cho nỗi khổ đau của người mẹ. Muôn lời sẻ chia, vạn lời an ủi cũng không xoa dịu được sự trống vắng mênh mông trong trái tim người mẹ.

Người mẹ đến gặp Đức Phật Như Lai cầu mong Ngài hãy rủ lòng từ bi giúp cho con bà sống lại. Sau những thời khắc đắn đo, Ngài bảo chỉ có một loài hoa tên là Cát Tường mới có thể giúp con bà sống lại được. Khi nào bà tìm được loài hoa ấy thì Ngài sẽ giúp cho.

su-tich-hoa-cat-tuong1

Người mẹ khăn gói lên đường. Bà bôn ba khắp xóm này, làng nọ, từ miền biển mênh mông cát trắng đến những nơi thâm sơn cùng cốc, đâu đâu cũng có dấu chân bà. Và cũng tiếc thay, không nơi nào người ta biết có loài hoa “may nắn, tốt lành” ấy. Hy vọng vơi dần, sức lực cạn dần, một ngày kia người mẹ gục ngã bên một con đường vẫn còn mịt mù phía trước. Bà không bao giờ đứng dậy được nữa. Xác bà biến thành một loài hoa mà người ta chưa bao giờ thấy.

Cảm thông cho câu chuyện của bà, người ta cho loài hoa ấy tên Cát Tường.

Sự tích hoa lay ơn

Tương truyền, Hoàng đế La Mã Bácbagalô ra lệnh treo cổ tất cả các tù nhân Phơranki chỉ để lại hai chàng trai khoẻ mạnh và đẹp nhất, đó là Têrét và Xép.

Ông dẫn hai chàng về La Mã và đưa vào trường đấu. Hai chàng bị nỗi buồn nhớ quê hương, nỗi cay đắng vì mất tự do và thân phận nô lệ thấp hèn hành hạ khôn nguôi. Họ chỉ cầu xin Chúa một điều là được chết ngay tức khắc. Nhưng Chúa không bận tâm đến những lời thỉnh cầu của họ. Ngày lại ngày qua, hai chàng vẫn sống bình yên và khoẻ mạnh.

– Phải chăng Chúa đã sắp đặt cho chúng ta một số phận khác rồi – một hôm Têrét nói với Xép – và có thể những người này còn muốn dạy cho chúng ta bài học phải biết sử dụng thành thạo thanh gươm để rửa mối nhục cho dân tộc ta chăng?

– Nếu đến cả Chúa cũng không đủ sức che chở cho dân lành thì chúng ta làm điều đó sao được? – Xép thở dài nặng nề, nói với Têrét.
– Ta phải cầu xin nữ thần để bà nói cho chúng ta biết điều gì đang đợi chúng ta ở phía trước. – Têrét nói và được Xép đồng tình.

su-tich-hoa-lay-on

Một buổi sáng, Têrét kể cho Xép nghe về giấc mơ đêm qua của chàng, Têrét mơ thấy chàng cầm thanh gươm bước lên đấu đài, còn Xép cũng cầm thanh gươm bước ra thách đấu. Họ lúng túng nhìn nhau, còn đám đông la ó ầm ĩ đòi các chàng trai phải bắt đầu cuộc giao chiến. Trong khi không người nào vung gươm trước về phía bạn mình để gây chuyện bất hạnh cho nhau, bỗng một cô gái La Mã xinh đẹp chạy lại gần Têrét và nói: “Hãy giành chiến thắng, chàng sẽ được tự do và tình yêu của ta! Têrét vung gươm lên, nhưng ngay khoảng khắc ấy, từ lòng đất vang lên một tiếng thét: “Hãy hành động theo trái tim!”

– Kìa, dường như em đã chứng kiến giấc mơ của ta! – Xép kinh ngạc thốt lên.

Trước lúc trời tối, khi đám bạn bè từ đấu trường trở về nhà hết, hai chàng bắt gặp cô gái La Mã dũng cảm, đó là ốctavia và Lêôcácđia, các con gái của Bácbagalô. Têrét và ốctavia, cả hai cùng không hẹn mà đưa mắt nhìn nhau. Họ không sao rời mắt khỏi nhau được nữa, vì vậy họ không hề biết giữa Xép và Lêôcácđia cũng đã xảy ra một chuyện tương tự như thế.

Tình yêu đâu phải lúc nào cũng mù quáng, mà trái lại rất sáng suốt, và những người yêu nhau bao giờ cũng tìm thấy lối thoát để được ở bên nhau, ngay cả khi giữa họ xuất hiện một vực thẳm giống như vực thẳm ngăn cách người chiến thắng và kẻ chiến bại. Đã từ lâu, Bácbagalô không còn nghi ngờ gì về việc các con gái của ngài vẫn bí mật gặp gỡ hai tù nhân. Và ngài có ý chờ xem ốctavia cũng như Lêôcácđia có dám thú nhận tình yêu mù quáng của mình với Têrét và với Xép không. Bácbagalô rất hiểu tính nết cương trực của các con mình, ngài không nỡ bỏ tù chúng, không ngăn cấm được chúng gặp gỡ người tình một cách vội vã. Ngài chỉ báo cho các con biết rằng, sắp tới, hai tù nhân Têrét và Xép sẽ phải so gươm với nhau, và kẻ nào chiến thắng kẻ ấy sẽ được tự do. Bácbagalô khát máu hy vọng rằng hai đấu sĩ kia sẽ giáp chiến không phải vì cuộc sống mà là vì cái chết, và cả hai sẽ phải rời khỏi cõi đời này, chỉ có điều sự thật ấy thì người đến xem không thể thấy được.

Tất cả đều diễn ra như dự đoán của Bácbagalô. ốctavia khích lệ Têrét phải bằng mọi cách để giành được chiến thắng và chàng sẽ được tự do; Lêôcácđia cũng khích lệ Xép như vậy. Hai chị em bỗng dưng trở thành kẻ thù của nhau, vì người nào cũng muốn bảo vệ hạnh phúc của mình – hạnh phúc được đổi bằng nỗi bất hạnh của kẻ kia.

Ngày diễn ra trận đấu bắt đầu. Đấu trường chật ních công chúng. Ngay ở hàng ghế thứ nhất, có Bácbagalô và các con gái.

Khi Têrét và Xép, mình trần như các chiến binh Phơranki bước ra đấu đài, họ giơ cao các thanh gươm lấp loá và hô: “Những người đi tìm cái chết gửi lời chào em!” Lập tức đám đông reo hò vị bị kích động. ốctavia đưa mắt khích lệ Têrét. Lêôcácđia dùng ngón tay cái dùi xuống thấp vừa chỉ vào Têrét vừa gật đầu với Xép.

Các đấu sĩ nâng gươm lên chuẩn bị giao chiến. Bầu không khí căng thẳng trùm lên đám khán giả, các cô gái thì chết giấc.

Nhưng đúng khoảng khắc mà Têrét xỉa gươm để đâm vào ngực Xép, bỗng anh nghe thấy tiếng trái tim mình thôi thúc.
– Hỡi chàng trai Phơrăngkít Têrét, chàng sẽ trả lời thế nào trước người mẹ Tổ Quốc về việc chàng đã sát hại đứa con trai của bà?

Câu hỏi ấy cũng vang vọng trong trái tim của Xép, và cùng lúc đó hai đấu thủ đã lao vào ôm hôn nhau, khiến đám đông la ó phẫn nộ:
– Hai đứa phải chết! ốctavia chồm lên hét:
– Têrét, hãy chiến đấu vì hạnh phúc của đôi ta! Cũng những lời lẽ ấy, Lêôcácđia khích lệ Xép.

Têrét, sau khi vung gươm lên làm yên lòng khán giả, bèn ngẩng cao đầu một cách kiêu hãnh và nói:
– Các người có sức mạnh hơn, các người đã biến chúng ta thành nô lệ, nhưng các người đừng hòng buộc chúng ta phải làm những kẻ hèn hạ! Các người có thể giết chúng ta, song các người không phải là kẻ chiến thắng!

Dứt lời, chàng bèn cắm thanh gươm của mình xuống đất; Xép cũng làm như vậy.
Bácbagalô ra hiệu cho các chiến binh nổi loạn. Khi xác của Têrét và Xép được đưa ra khỏi đấu trường, một chuyện kỳ lạ đã xảy ra: những thanh gươm được cắm xuống đất cứ kêu leng keng, và ngay trên mảnh đất có hai thanh gươm ấy đã mọc lên những bông hoa. Những bông hoa người đời vẫn thường gọi “HOA LAY ƠN”.

Sự tích hoa Cẩm tú Cầu

Từ thuở sơ khai, khi con người dựa vào hoạt động săn bắn và hái lượm để tồn tại thì việc chiếm hữu lãnh thổ là điều thiết yếu để đánh giá quyền lực của mỗi nhóm người riêng lẻ. Thời kì hỗn loạn nhất trong lịch sử bắt đầu từ đó, đánh dấu sự ra đời của mười ba bộ tộc với những cuộc chiến tranh triền miên hàng trăm năm đến nỗi không ai còn nhớ nguyên nhân chiến tranh là gì nữa.

Những cuộc chiến đẫm máu cứ thế kéo dài. Trước tình hình đó mười ba vị tộc trưởng đã tổ chức một cuộc họp nhằm đưa ra phương pháp giản hòa. Thế nhưng, buổi họp thất bạị vì sự bất đồng, một cuộc chiến lớn nhất chưa từng có giữa mười ba bộ tộc đã nổ ra. Như một lời nguyền, trong cuộc chiến đó không một người đàn ông nào sống sót. Những người mẹ, người vợ, những đứa con nhỏ sống trong cảnh lầm than.

May mắn thay, trong cảnh đó đã xuất hiện một vị nữ thần đầy quyền lực, đứng ra hoà giải mười ba bộ tộc, tập hợp học thành một bộ tộc duy nhất và dạy họ điều hay lẽ phải. Từ đó chiến tranh chấm dứt, hòa bình được duy trì, cuộc sống tốt đẹp, mùa màng thuận lợi, lễ hội diễn ra hàng năm trong tiếng cười và những điệu múa. Đến mùa thứ sáu, vị nữ thần đứng trước bộ tộc và thông báo
-Hỡi những đứa con của đất Mẹ! Nhiệm vụ của ta đã hoàn thành, đã đến lúc ta phải ra đi.

su-tich-hoa-cam-tu-cau
Trong ánh lửa đêm, tiếng xì xầm lo lắng vang lên. Nữ thần giơ cao cây trượng của mình ra hiệu mọi người im lặng.

-Trước khi đi, ta sẽ trao lại quyền năng của mình cho một trong số các ngươi. Người này sẽ là nhà tiên tri thay ta dẫn dắt bộ tộc. Tất cả các cô gái tròn mười sáu tuổi trinh nguyên hãy bước đến phía trước.

Bảy cô gái bước lên trên đống lửa lớn. Nữ thần nhắm mắt lại rồi giơ cao cây trượng, bà lâm râm đọc câu thần chú. Ánh sáng trắng chói lòa thay thế màn đêm đen, vị nữ thần biến mất, cây trượng của bà lơ lửng trên không trung phát ra những ánh hào quang rực rỡ, nó chậm rãi bay đến cô gái thứ tư và nằm trong lòng bàn tay cô. Cơ thể cô gái bắt đầu thay đổi, cô trở nên xinh đẹp như một nàng tiên, một bộ đồ trắng mỏng manh thay thế cho y phục của bộ lạc tượng trưng cho sự thuần khiết. Tất cả mọi người trong bộ tộc quỳ trước nhà tiên tri mới của mình, họ hô hào và kính nể cô. Sau lễ hội, nhà tiên tri mới được đưa đến đền thờ dành cho mình. Giờ đây, cô được mọi người tôn sùng như một vị thánh nhưng cái giá phải trả là cô sẽ phải ở đền thờ suốt sáu năm tại vị cũng như không bao giờ được lập gia đình sau đó.

Tục lệ cứ mỗi sáu mùa mưa nắng sẽ chọn một nhà tiên tri bắt đầu từ đây. Họ sống trong nghi thức lễ giáo để rồi bị ám ảnh bởi nỗi cô đơn, một số khác lại xem đó là niềm kiêu hãnh và vinh dự lớn lao trong cuộc đời.

Thời gian trôi qua trong yên bình, cho đến nhà tiên tri lần thứ 127. Các bộ tộc lớn nhỏ khắp nơi đổ về dự lễ như thường lệ. Năm đó, có 36 cô gái tuổi mười sáu được chọn cho buổi tiếp nhận.

Trong đó có Li-a, cô gái có nét đẹp trong sáng của nắng, đôi mắt long lanh như những giọt mưa đầu mùa. Bao chàng trai mơ ước được làm chồng cô, nhưng cô không để mắt đến một ai ngoại trừ Erike, người hàng xóm lớn lên cùng cô. Lễ kết duyên hai người đã được định sẵn, nhưng buổi tuyển chọn nhà tiên tri đã phá vỡ tất cả. Cha mẹ Li-a hủy lễ và khuyên con gái mình tham gia vào buổi chọn nhà tiên tri, vì đó là niềm tự hào của gia đình, vả lại chưa chắc cô sẽ được chọn, nếu không được, đám cưới sẽ diễn ra sau khi kết thúc lễ hội. Dù vậy, đêm đó Li-a vẫn khóc đến cạn nước mắt.

Nhà tiên tri đương nhiệm xuất hiện sau các nghi lễ trịnh trọng. Bà gọi các cô gái lên trên đài xếp thành vòng tròn xung quanh mình rồi làm phép. Li-a thầm cầu nguyện người được chọn không phải là cô, đó không phải con đường cô muốn, cô chỉ cần được bên cạnh người cô yêu mà thôi.
-Erike! – Li-a thầm thì.

Bên dưới đám đông, Erike còn lo lắng hơn cả cô. Cả ngày anh cầu xin tất cả các vị thần mà anh biết rằng anh sẽ đánh đổi tất cả chỉ để Li-a không thành nhà tiên tri. Li-a đã là linh hồn của anh.

Nhưng định mệnh vẫn là định mệnh. Li-a đã được chọn là nhà tiên tri mới, mọi người đưa cô đến đền thờ, cô ở lại đó và không được phép gặp bất kì ai ngoại trừ tộc trưởng khi có việc cần đến nhà tiên tri.

Erike đau đớn bỏ đi khỏi bộ tộc và không còn ai nhìn thấy anh nữa. Mang trong mình trọng trách là một là tiên tri nhưng Li-a chưa bao giờ nguôi mong mỏi gặp lại người yêu, mỗi ngày cô đều cầu nguyện cho Erike được bình an sống trong hạnh phúc.

Không chấp nhận được sự thật, sau ba năm sống trong đau khổ trong rừng sâu Erike đã trở về làng. Để gặp người con gái thân yêu, anh âm thầm đột nhập vào đền thờ. Tưởng chừng như Li-a đã quên, nhưng cô nhận ra ngay người con trai hằng đêm cô nhớ nhung. Im lặng nhìn nhau trong xót xa và nước mắt.

Erike nói rằng cả hai nên bỏ trốn đến nơi mà không ai tìm ra họ. Li-a sợ hãi, vì nghĩ đến trách nhiệm và sự quan trọng của nhà tiên trig. Nhưng phần nào trong cô lại muốn được ở bên Erike. Từ ngày cô được chọn để trở thành nhà tiên tri thì cuộc sống không còn là của riêng cô nữa rồi.

Lính gác đền thờ phát hiện người lạ trong đền thờ,liền chạy đến bắt Erike. Erike liền nắm tay kéo Li-a chạy vào rừng sâu. Họ chạy, chạy mãi suốt nhiều ngày vượt qua sông núi. Dù là nhà tiên tri với những pháp thuật khôn lường nhưng Li-a vẫn chỉ là một cô gái chân yếu tay mềm, sau nhiều ngày rượt đuổi cô như kiệt sức rồi quỵ xuống trên một cánh đồng cỏ trải dài ngút ngàn. Phía sau là tiếng hò hét của bộ tộc kéo đến, cô biết rằng nếu bị bắt chắc chắn Erike sẽ bị xử tử vì đây một trọng tội.

-Erike! Em không thể đi tiếp được nữa rồi. Anh chạy đi! Họ sẽ giết anh mất.
-Không! Anh sẽ không bỏ em lại đâu, anh đã mất em một lần rồi. Erike đỡ cô dậy. Anh sẽ cõng em!

-Đừng khờ thế! Anh phải sống…

VỤT! VỤT! VỤT! Tiếng cung tên lướt đi trong gió, hàng loạt mũi tên lao qua cánh đồng tìm hồng tâm. Một trong số chúng bay thẳng đến con tim của Erike.

Hự! – Máu tuôn ra nhưng không phải của Erike. Li-a đã thay anh nhận mũi tên kia, Erike đỡ lấy cô trong đau đớn. Thời gian với họ như ngưng lại, không còn gì là quan trọng nữa, điều quan trọng nhất đang trên tay Erike nhưng anh lại sắp lìa xa điều đó mãi mãi.

-Anh chạy đi. Em là nhà tiên tri, họ sẽ không giết em đâu! Li-a nói trong khó nhọc.
-Không! Không! Không! Erike hét lên trong nước mắt. Anh sẽ không đi đâu cả. Nếu chết, anh sẽ chết bên em.

su-tich-hoa-cam-tu-cau1

Bỗng nhiên Li-a nghĩ đến định mệnh này, tại sao cô lại được chọn làm nhà tiên tri? Và cô nhớ đến câu thần chú cổ xưa, cô không muốn nhìn thấy người mình yêu chết. Cô biết rằng với tình yêu anh dành cho cô anh sẽ không bỏ cô lại nơi đây. Hy sinh là thứ duy nhất cô có thể làm cho anh bây giờ

-Erike! Em yêu anh, dù có ở nơi nào trong cõi đời này, em vẫn yêu anh! Cô khẽ nói vào tai ngưòi cô yêu rồi đẩy anh ra xa.

Mũi tên đâm quá sâu vào ngực cô, nó cướp đi nguồn sức lực cuối cùng. Li-a cố gượng dậy, cô chống cây trượng xuống đất rồi giơ cao hai tay lên trời. Toàn bộ cánh đồng bỗng nhiên hóa thành một rừng cây cao gần hai mét ngăn những kẻ đuổi theo. Từ các bụi cây bỗng dưng hàng triệu bông hoa đua nở, chúng có hình cầu được tạo thành bởi các nhánh hoa nhỏ khác. Màu trắng của hoa ngập tràn trên cánh đồng. Một cảnh tượng đẹp kì lạ nhưng hình bóng Li-a dần phai nhạt rồi biến mất trước mắt Erike.

-Li-a!!!!!!!!! Anh với tay và kêu gào tên người con gái mình yêu.

Xung quanh anh giờ đây chỉ có loài hoa lạ kia cũng chính là người con gái đã chết vì anh. Tự dằn vặt và trách bản thân, Erike không rời đi nửa bước, anh ở lại nơi đây bảo vệ cô, loài hoa màu trắng tinh khiết như tình yêu cô dành cho anh. Ngày tháng trôi qua, Erike chết vì đói và khát. Anh gục xuống bên những đóa hoa.

Máu và thịt Erike hòa vào đất nơi những bông hoa mọc lên, tạo nên những màu sắc khác cho những bông hoa màu trắng tượng trưng cho tình yêu của họ: Vẫn giữ màu trắng trinh nguyên, màu đỏ mãnh liệt, màu xanh hy vọng, màu tím thuỷ chung,…

Từ đó, người ta đặt tên cho loài hoa này là Cẩm Tú Cầu. Truyền thuyết này được lưu truyền qua những người yêu nhau cho đến ngày nay. Ban đầu câu chuyện được truyền miệng rộng rãi rồi sau đó không còn được nhắc đến nữa vì nhiều lí do mà nguyên nhân chính nhiều ngưòi tin rằng câu chuyện mang một lời nguyền ly tan.

Sự tích hoa thược dược

Tương truyền, tác dụng chữa bệnh của bạch thược đã được danh y Hoa Đà phát hiện ra trong một tình huống rất ly kỳ. Để nhận biết và tránh nhầm lẫn các vị thuốc, ông đã trồng đủ thứ cây thuốc quanh nhà. Một hôm có người đem biếu ông cây hoa lạ, nói rằng có thể dùng chữa bệnh nhưng không rõ chữa được bệnh gì. Hoa Đà đem trồng ở góc sân bên cửa sổ.

Xuân tới, cây ra những bông hoa rất to, trắng muốt, thơm như hoa hồng. Ông thử hái hoa sắc uống nhưng không nhận thấy có gì khác lạ. Ông lại hái lá rồi hái cành đem thử cũng không phát hiện điều gì đặc biệt. Nghĩ rằng cây hoa này tuy đẹp nhưng không có tác dụng chữa bệnh nên mấy năm liền, Hoa Đà không để ý đến nó nữa.

su-tich-hoa-thuoc-duoc

Một đêm thu, Hoa Đà đang ngồi đọc sách, bỗng nghe thấy ngoài cửa sổ có tiếng con gái khóc thút thít. Nhìn ra, ông thấy dưới ánh trăng mờ, có một người con gái rất đẹp đang đứng đó khóc. Ông tự hỏi, không biết con gái nhà ai, chắc có nỗi oan ức nào đây. Ông khoác áo ra ngoài nhưng nhìn trước nhìn sau không thấy bóng người nào nữa, chỗ cô gái đứng khóc chỉ còn một cây thược dược.

Hoa Đà đi vào và tự nhủ: “Cho dù nhà ngươi có linh tính thì bây giờ cũng đang là mùa thu, hoa đã tàn, lá đã rụng, còn sử dụng được vào việc gì?”.

Nhưng ông vừa ngồi xuống tiếp tục đọc sách thì lại nghe tiếng khóc thút thít, nhìn ra vẫn là cô gái ban nãy. Hoa Đà bước ra, cô lại biến mất, vẫn chỉ có cây bạch thược. Sự việc cứ lặp đi lặp lại mấy lần khiến Hoa Đà vô cùng ngạc nhiên. Ông bèn đánh thức vợ đang ngủ say dậy kể lại chuyện.

Bà nói: “Tất cả các cây trong vườn đều được ông sử dụng làm thuốc cứu người, chỉ có cây bạch thược này bị bỏ quên, chắc là nó có nỗi oan ức”. Hoa Đà bảo: “Tôi từng thử tất cả các bộ phận của nó thấy chả có tác dụng, vậy còn oan ức nỗi gì?”

Bà vợ nói: “Ông mới thử những thứ trên mặt đất, còn rễ của nó thì sao?”. Nhưng danh y gạt đi: “Hoa lá cành còn chẳng có gì đặc biệt, vậy thì còn thử rễ làm gì?”. Dứt lời, ông nằm xuống ngủ thiếp đi. Bà vợ suốt đêm không sao chợp mắt, nghĩ rằng chồng mình đã thay đổi, không còn lắng nghe ý kiến của người khác như trước kia nữa.

Vài hôm sau, bà vợ Hoa Đà bỗng nhiên bị đau bụng, băng huyết rất nhiều, uống đủ thứ thuốc không đỡ. Bà liền lén ra vườn đào rễ cây bạch thược đem sắc uống. Chỉ nửa ngày sau, bụng đã hết đau, máu cũng không còn chảy nữa. Nghe vợ kể lại, Hoa Đà rất cảm kích: “Cảm ơn bà đã thức tỉnh ta, nếu không thì ta đã để mai một cây thuốc quý”.

Sau sự kiện đó, ông thử nghiệm và nhận thấy ngoài tác dụng giảm đau, cầm máu, rễ bạch thược còn có tác dụng dưỡng huyết và chữa được nhiều bệnh phụ khoa. Cây hoa lạ này ban đầu có tên bạch thược, sau đó Hoa Đà thêm chữ “dược” thành bạch thược dược.

Ý nghĩa và sự tích hoa tulip

Ngày xửa ngày xưa, tại một thung lung trong núi Derapsan ở Uzbekistan có một người sống bằng nghề chăn cừu tên là Xabiđan. Ông sống rất cực khổ vì đàn cừu ông chăn dắt không phải là sở hữu của ông mà là của điền chủ độc ác Hamít. Xabiđan chỉ có đôi cánh tay lực lưỡng, một cây sáo tự khoét lấy và bảy cô con gái mắt đen huyền. Cô út có tên gọi hơi khác thường đó là Tulip. Xabiđan rất yêu quí các cô con gái của mình, xong cũng đã nhiều lần ông than thở:

– Ôi, giá ta có đứa con trai….

Mọi người biết đó đối với một người cha, con trai giống như đôi cánh. Còn con gái… con gái rồi cũng sẽ đi lấy chồng, sẽ bỏ cha và để lại cho trái tim ông nỗi đơn độc và buồn rầu. Một hôm, cô út và là cô gái đẹp nhất của người chăn cừu tên Tulip mười tuổi, mang bữa ăn trưa đến cho cha.

y-nghia-va-su-tich-hoa-tulip1

Để cho người cha đang mệt mỏi được khuây khoả, nàng bèn cất tiếng hát những bài hát nàng tự nghĩ ra và nhảy những điệu múa trông thật uyển chuyển và đẹp mắt. Đôi gò má của Tulip cứ hồng hào thêm lên, và cặp mắt đen láy thì sáng rực như hai vì sao, không một nàng công chúa nào có thể sánh được

Đúng giờ khắc ấy, số phận cay nghiệt đã phái tên điền chủ Hamít cưỡi một con ngựa hùng dũng đến trước đàn cừu. Vừa trông thấy Tulip đang nhảy múa, gã bèn dừng ngựa lại, nấp sau mấy bụi cây nhỏ theo dõi từng động tác nhảy tuyệt diệu của cô gái kiều diễm.Nhảy xong Tulip nói với cha:

– Cha ơi, con muốn được múa hát cả đời để cho mọi người được vui sướng.

– Ôi, con gái yêu quí của ta – người cha lắc đầu – Con là con của một kẻ chăn cừu thuê nghèo hèn, kiếm đâu ra những xiêm áo lụa là và những bộ y phục múa trong suốt chứ con?

Hamít rình mò chờ cho đến khi cô gái mang bát đĩa về nhà thì xông ra túm lấy cô đưa cô về dinh cơ nhà mình. Gã đẩy Tulip vào một căn phòng kín, ở đó đã có hàng trăm cô gái đẹp đang dệt thảm.

Suốt từ lúc mặt trời mọc cho đến tận hoàng hôn, Tulip dầm mình trong đám bụi với công việc dệt thảm tẻ ngắt và mệt mỏi. Từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, quanh năm không nhìn thấy chút ánh nắng mặt trời.

y-nghia-va-su-tich-hoa-tulip

Mùa hạ tối tăm và lạnh lẽo cũng trôi qua, rồi ngay cả mùa thu buồn bã và mùa đông lạnh lẽo cũng qua đi. Nỗi nhớ cha mẹ, nhớ quê hương nhớ những con suối chảy rì rào và tiếng chim ca. Nổi nhớ dày vò trong tâm tư của Tulip khôn nguôi. Khiến nàng đưa ra một quyết định liều lĩnh đó là bỏ trốn hoặc là chết….
Một bữa nọ, Tulip lại bên cửa sổ phóng tầm mắt qua lỗ khe nhỏ nhìn xuống phía dưới. Nàng phát hiện ra ở ngay dưới chân cửa sổ có vô số những mảnh chai, kính vỡ – đó chính là cái bẫy, nếu tù nhân nữ nào liều mạng phá cửa sổ bỏ trốn thì sẽ bị cứa đứt chân. Đúng lúc đó có một con chim bay đến đậu ngay bên bệ cửa sổ – đấy chính là con bồ câu trắng của người chị cả tên là Phairidôđa.

Làm thế nào để báo tin về nhà đây? Tulip không biết viết, thậm chí ở nhà cũng chẳng ai biết đọc. Cô vội vã cắt ngay một mớ tóc đen của mình, dứt một vài sợi quí vẫn thường dùng để dệt thảm rồi chuyển qua khe hở cho chú bồ cầu đó. Chú chim bồ câu tạm biệt nàng, bay đi.

Khi nhận được tin em út, Phairidôđa nghĩ nát óc tìm cách cứu em gái. Cuối cùng nàng đến gặp bà lão Turơxun. Bà là người sống đơn độc trong túp lều rách nát, ngày ngày kiếm cây cỏ làm thuốc chữa bệnh. Tương truyền Turơxun có cả thuốc phục sinh.Turơxun nghe hết chuyện Phairidôđa kể, bà liếc nhìn mặt trăng rồi lầm bầm khấn:

– Tự do không phải thứ quà tặng mà phải đánh đổi nó bằng máu.

– Bằng máu của Tulip ư? – Phairidôđa sợ hãi kêu lên.

– Phải, không những bằng máu của Tulip mà còn bằng máu của tất cả bảy chị em nhà ngươi và còn của tất cả những người bạn, những đứa bé nghèo nàn bị nhốt nữa. Hãy nghe ta nói đây:

Sau hai đêm nữa, đến đêm thứ ba, khi mặt trăng bắt đầu mọc lúc nửa đêm, Hamít sẽ tổ chức tại dinh cơ nhà lão một bữa đại tiệc. Như thường lệ, bọn lính gác bao giờ cũng là những kẻ bị chuốc rượu say trước nhất, mặc dù sáng hôm sau họ phải trả giá bằng một cái đầu. Ngay đêm ấy, trước lúc trăng lên, chị em các ngươi phải lọt được vào dinh cơ, còn chim bồ câu sẽ chỉ cho các ngươi cửa sổ phòng giam của các cô gái. Hãy đi chân đất đến gần cửa sổ mà mở ra. Bây giờ ta sẽ nói tại sao Hamít nhanh chóng phát hiện ra bầy nô lệ của gã chạy trốn và gã có thể nhanh chóng đuổi theo bắt lại. Gã căn cứ vào những vết máu, gã có thể biết một cách rõ ràng bầy nô lệ trốn đi đâu, nhưng nếu dấu vết đó lại quá nhiều thì gã sẽ lúng túng, trong khi đó có những người lại đang leo lên một sườn dốc đứng mà ngựa của gã không leo được. Vì thế ta nói lại một lần nữa nhất định là phải đi chân đất, bàn chân các ngươi sẽ phải bị thương vì mảnh kính.

Phairidôđa làm tất cả những việc mà Turơxun chỉ vẽ. Những tên lính canh bị chuốc rượu say mèm không còn nhận ra các cô gái đang lén lút bỏ trốn. Sau khi bị mảnh kính cứa nát bàn chân, các cô mở cửa sổ ra và khẽ gọi Tulip. Tulip nhảy ào qua cửa sổ, mặc dù hai bàn chân bị thương đau nhói nàng vẫn không dám kêu ca. Các chị, các bạn gái và những người đồng cảnh ngộ với nàng cũng phải chịu những đau đớn như thế.

Các cô gái chạy toán loạn theo sườn núi. Dù hai bàn chân bị thương, phải chạy một cách khó khăn, các cô vẫn không dám rên rỉ, vì nếu để lộ, các cô sẽ mất tự do, một món quà mà các cô phải đổi bằng một giá quá đắt. Các cô cứ men theo sườn núi đá còn phủ tuyết mà chạy cho đến khi nghe rõ những tiếng vó ngựa dồn dập.

– Hamít đang đuổi theo chúng ta đấy! – Tulip hét lên, giục mọi người – hãy chạy nhanh lên!

Các cô gái chạy trốn dường như có gió giúp sức cho họ nhưng Tulip đã bắt đầu đuối sức, nàng bị rớt lại phía sau. Ngựa của Hamít đã ập đến sau lưng nàng. Chẳng lẽ nàng lại phải trở thành tù nhân, lại không được trông thấy mặt trời cùng núi rừng nữa hay sao? “Không, ta thà chết trong tự do còn hơn là sống một cuộc đời nô lệ!” Và, thế là Tulip gieo mình xuống dưới vó ngựa, cả bốn vó ngựa xéo lên người nàng, nhưng chính con vật đã bị khuất và gẫy một chân. Hamít bị thương lết về nhà lúc trời còn chưa sáng, hối hả giục lũ gia nhân đuổi bắt những kẻ trốn chạy.

Còn Tulip đáng thương thì toàn thân đẫm máu, nàng gượng đứng lên nhưng không còn sức lực. Tulip lảo đảo đi vài bước rồi ngã sấp người xuống tuyết. Rồi nàng ngủ một giấc ngủ không bao giờ tỉnh.

Sáng hôm sau, Hamít cùng lũ lâu la mò lên đỉnh núi cao tuyết phủ. Trước mắt chúng hiện ra một cảnh tượng kì lạ từ chỗ của Tulip nằm. Trên bãi tuyết trắng lạnh đó có những bông hoa đỏ bừng nở. Và bông hoa mang tên nàng Tulip ra đời từ đó, góp thêm một vẻ đẹp quyến rũ cho đời.

Ý nghĩa của hoa Tulip đỏ là tỏ lòng yêu nhưng chưa được đáp lại